Ngày 24/8/2026, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Luật gồm 12 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027. Trong lĩnh vực trồng trọt, các nội dung sửa đổi tập trung đơn giản hóa thủ tục về giống cây trồng và phân bón, tăng quyền chủ động của tổ chức, cá nhân, đồng thời chuyển trọng tâm quản lý từ kiểm soát trước sang hậu kiểm, giám sát chất lượng và xử lý vi phạm.
Trước thời điểm Luật có hiệu lực, một số nội dung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đã và đang được thực hiện theo Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 của Chính phủ. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 18/5/2026; một số quy định cụ thể được áp dụng từ ngày 1/7/2026. Khi luật, nghị quyết hoặc văn bản quy phạm pháp luật được ban hành và có hiệu lực trong thời gian thực hiện Nghị quyết, các quy định tương ứng tại Nghị quyết sẽ hết hiệu lực kể từ thời điểm văn bản mới có hiệu lực.
Đơn giản hóa quản lý nhưng không buông lỏng chất lượng
Điểm nổi bật của chính sách mới là cắt giảm những thủ tục hành chính không còn cần thiết, hạn chế tình trạng tổ chức, cá nhân phải xin cấp lại, gia hạn hoặc thực hiện nhiều lần các thủ tục đối với cùng một sản phẩm, hoạt động. Thay vào đó, chủ thể sản xuất, kinh doanh được chủ động hơn trong việc công bố và công khai thông tin, nhưng đồng thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đầy đủ, chính xác của nội dung đã công bố.
Cách tiếp cận này thể hiện sự chuyển dịch từ cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Tuy nhiên, việc giảm thủ tục không đồng nghĩa cơ quan quản lý nhà nước từ bỏ hoạt động kiểm soát. Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP xác định rõ việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh phải gắn với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm của cơ quan, người có thẩm quyền.
Theo đó, đối với những thủ tục không còn thực hiện ở khâu cấp phép hoặc xác nhận trước, cơ quan quản lý sẽ tăng cường kiểm tra trong quá trình sản xuất, nhập khẩu, lưu thông và sử dụng sản phẩm. Các hành vi công bố thông tin không chính xác, sản xuất hoặc kinh doanh hàng giả, hàng không bảo đảm chất lượng, không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng hoặc quy chuẩn kỹ thuật vẫn bị xử lý theo quy định.
Giống cây trồng chuyển sang cơ chế tự công bố và tự chịu trách nhiệm
Đối với giống cây trồng thuộc diện tự công bố lưu hành, tổ chức, cá nhân được chủ động thực hiện việc công bố và phải chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác của thông tin đã công bố, công khai. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm quy định cụ thể nội dung thông tin phải công bố và hình thức công khai thông tin về giống cây trồng.
Đối với giống cây trồng không thuộc loài cây trồng chính, tổ chức, cá nhân không phải thực hiện một thủ tục hành chính riêng về tự công bố lưu hành. Tuy nhiên, việc không thực hiện thủ tục hành chính không có nghĩa là được miễn nghĩa vụ công bố thông tin. Chủ thể sản xuất, buôn bán, xuất khẩu hoặc nhập khẩu giống vẫn phải tự công bố thông tin về giống theo tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn cơ sở về giá trị canh tác, giá trị sử dụng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung đã công bố.
Việc thay đổi phương thức quản lý giúp giảm hồ sơ và thời gian chờ giải quyết thủ tục, nhưng đồng thời làm tăng trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm nguồn gốc, chất lượng và tính trung thực của thông tin về giống. Khi phát hiện thông tin công bố không chính xác hoặc sản phẩm không đáp ứng yêu cầu chất lượng, cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể kiểm tra, yêu cầu khắc phục và xử lý vi phạm.
.png)
Bãi bỏ thủ tục công nhận tổ chức khảo nghiệm nhưng vẫn duy trì yêu cầu chuyên môn
Cơ chế cấp, cấp lại và hủy bỏ quyết định công nhận tổ chức khảo nghiệm giống cây trồng được bãi bỏ. Đây là một trong những nội dung thể hiện rõ định hướng giảm sự phụ thuộc vào thủ tục công nhận hành chính đối với tổ chức cung cấp dịch vụ kỹ thuật.
Tuy nhiên, việc bãi bỏ thủ tục công nhận không đồng nghĩa với việc bãi bỏ hoạt động khảo nghiệm hoặc hạ thấp yêu cầu chuyên môn. Tổ chức, cá nhân thực hiện khảo nghiệm vẫn phải tuân thủ các quy định về khảo nghiệm giống cây trồng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả khảo nghiệm.
Đối với khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng, thường gọi là khảo nghiệm VCU, việc khảo nghiệm được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc gia. Trường hợp chưa có tiêu chuẩn quốc gia thì thực hiện theo tiêu chuẩn cơ sở.
Đối với khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định, thường gọi là khảo nghiệm DUS, trước hết áp dụng tiêu chuẩn quốc gia. Trường hợp chưa có tiêu chuẩn quốc gia thì có thể thực hiện theo tài liệu hướng dẫn về khảo nghiệm DUS do Hiệp hội quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới – UPOV, nước thành viên của UPOV hoặc nước hợp tác với Việt Nam về bảo hộ giống cây trồng công bố; hoặc theo tài liệu do cơ quan quản lý nhà nước về bảo hộ giống cây trồng ban hành.
Việc mở rộng nguồn tài liệu chuyên môn được áp dụng giúp hoạt động khảo nghiệm có khả năng thích ứng nhanh hơn với tiến bộ khoa học, công nghệ và sự xuất hiện của các giống cây trồng mới. Dù vậy, kết quả khảo nghiệm vẫn phải bảo đảm yêu cầu chuyên môn và có thể được kiểm tra, đánh giá trong quá trình quản lý, lưu hành giống.
Kéo dài thời hạn lưu hành phân bón, giảm thủ tục gia hạn lặp lại
Đối với phân bón, thời hạn của Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam được nâng từ 5 năm lên 10 năm. Quyết định được gia hạn và thời hạn sau gia hạn được xác định theo quy định mới, qua đó giúp doanh nghiệp giảm số lần phải thực hiện thủ tục trong suốt quá trình sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh sản phẩm.
Theo quy định chuyển tiếp, Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam đã được cấp trước ngày 18/5/2026 và còn hiệu lực được tiếp tục sử dụng đến hết thời hạn ghi trên quyết định, đồng thời được kéo dài thêm 5 năm kể từ ngày quyết định hết hạn.
Việc kéo dài thời hạn không làm thay đổi trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với chất lượng phân bón. Trong thời gian sản phẩm lưu hành, doanh nghiệp vẫn phải bảo đảm phân bón phù hợp với nội dung được công nhận, tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật và các yêu cầu pháp luật có liên quan. Trường hợp sản phẩm không đáp ứng yêu cầu hoặc có thông tin công bố không chính xác, cơ quan quản lý có quyền kiểm tra, xử lý và áp dụng các biện pháp quản lý cần thiết.
.png)
Không thực hiện thủ tục cấp lại đối với quyết định bị mất hoặc hư hỏng
Thủ tục cấp lại Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam trong trường hợp quyết định bị mất hoặc hư hỏng không còn được thực hiện theo cơ chế cũ. Việc thay đổi này nhằm hạn chế tình trạng cơ quan chuyên ngành phải ban hành lại một quyết định có nội dung về cơ bản không thay đổi.
Đối với văn bản, giấy phép, giấy chứng nhận đã được cấp bằng bản giấy trước ngày 18/5/2026, còn hiệu lực nhưng bị mất, rách nát hoặc hư hỏng, tổ chức, cá nhân có nhu cầu có thể đề nghị cơ quan hoặc người có thẩm quyền cấp bản sao từ sổ gốc theo quy định của pháp luật về chứng thực. Quy định này là cơ chế chuyển tiếp, không nên hiểu là nguyên tắc áp dụng cho mọi giấy tờ được cấp ở mọi thời điểm.
Đối với hồ sơ đề nghị cấp lại đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận trước thời điểm quy định mới có hiệu lực, việc xử lý hồ sơ được thực hiện theo quy định chuyển tiếp tương ứng.
Không thực hiện thủ tục kiểm tra nhà nước về chất lượng phân bón tại khâu nhập khẩu
Một thay đổi đáng chú ý khác là không thực hiện thủ tục hành chính kiểm tra nhà nước về chất lượng phân bón nhập khẩu. Nội dung này đã được áp dụng từ ngày 1/7/2026 theo Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP và tiếp tục được luật hóa thông qua việc bãi bỏ quy định tương ứng trong Luật Trồng trọt.
Tuy nhiên, việc không thực hiện thủ tục kiểm tra nhà nước tại khâu nhập khẩu không đồng nghĩa với việc phân bón nhập khẩu được miễn các yêu cầu về chất lượng. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu vẫn phải chịu trách nhiệm về nguồn gốc, chất lượng và tính hợp pháp của sản phẩm; bảo đảm sản phẩm phù hợp với nội dung công nhận lưu hành, tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật và quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Cơ quan quản lý nhà nước vẫn có quyền thực hiện thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm, lấy mẫu sản phẩm lưu thông trên thị trường và xử lý vi phạm. Vì vậy, nội dung được cắt giảm là thủ tục hành chính kiểm tra trước tại khâu nhập khẩu, không phải toàn bộ hoạt động quản lý, giám sát chất lượng phân bón.
Bãi bỏ điều kiện buôn bán nhưng vẫn duy trì điều kiện sản xuất
Một nội dung cần được hiểu và diễn đạt chính xác là việc đơn giản hóa điều kiện kinh doanh không đồng nghĩa với bãi bỏ toàn bộ điều kiện trong lĩnh vực giống cây trồng và phân bón.
Theo nội dung giải trình chính thức của Chính phủ, các quy định mới bãi bỏ điều kiện đầu tư kinh doanh đối với hoạt động buôn bán phân bón và buôn bán giống cây trồng nhằm bảo đảm sự thống nhất với pháp luật về đầu tư. Tuy nhiên, điều kiện sản xuất giống cây trồng và điều kiện sản xuất phân bón vẫn được duy trì theo Luật Trồng trọt.
Đối với sản xuất phân bón, cơ sở sản xuất vẫn phải đáp ứng các điều kiện theo quy định và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phân bón. Đối với sản xuất giống cây trồng, tổ chức, cá nhân vẫn phải đáp ứng các điều kiện sản xuất và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ liên quan đến chất lượng giống.
Việc bãi bỏ điều kiện buôn bán chủ yếu làm giảm thủ tục và giấy phép kinh doanh chuyên ngành đối với khâu thương mại. Tổ chức, cá nhân buôn bán vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ về chất lượng hàng hóa, nhãn sản phẩm, nguồn gốc, xuất xứ, thông tin sản phẩm và các yêu cầu pháp luật có liên quan.
Các hành vi sản xuất hoặc kinh doanh giống cây trồng, phân bón giả; sản phẩm không đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; công bố sai thông tin hoặc vi phạm quy định về chất lượng vẫn bị xử lý theo pháp luật về trồng trọt, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, xử lý vi phạm hành chính và pháp luật hình sự khi có đủ căn cứ.
.png)
Tạo thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh đi đôi với nâng cao trách nhiệm
Nhìn tổng thể, việc sửa đổi các quy định trong lĩnh vực trồng trọt không chỉ nhằm giảm số lượng thủ tục hành chính mà còn làm thay đổi phương thức quản lý nhà nước. Tổ chức, cá nhân được giảm các thủ tục xin cấp phép, công nhận, cấp lại và gia hạn không cần thiết; đồng thời phải chủ động hơn trong công bố thông tin, quản lý chất lượng và bảo đảm tính hợp pháp của sản phẩm.
Trong mô hình quản lý mới, trách nhiệm của doanh nghiệp và các chủ thể tham gia thị trường không giảm mà được chuyển từ trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ trước khi hoạt động sang trách nhiệm duy trì chất lượng trong toàn bộ quá trình sản xuất, nhập khẩu và lưu thông sản phẩm. Thông tin tự công bố phải chính xác, sản phẩm thực tế phải phù hợp với thông tin đã công bố và hồ sơ, dữ liệu phải được lưu giữ để phục vụ kiểm tra khi cần thiết.
Về phía cơ quan quản lý, yêu cầu đặt ra là phải nâng cao năng lực hậu kiểm, quản lý dựa trên mức độ rủi ro, tăng cường kết nối dữ liệu và kịp thời xử lý sản phẩm vi phạm. Chỉ khi việc giảm thủ tục được thực hiện đồng thời với hậu kiểm hiệu quả, mục tiêu tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh mới có thể đi đôi với bảo vệ quyền lợi của người sử dụng và bảo đảm chất lượng vật tư nông nghiệp.
Luật được Quốc hội thông qua ngày 24/8/2026, gồm 12 điều và có hiệu lực từ ngày 1/1/2027. Mười luật được sửa đổi, bổ sung gồm: Luật Trồng trọt; Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Luật Chăn nuôi; Luật Thú y; Luật Thủy sản; Luật Địa chất và khoáng sản; Luật Tài nguyên nước; Luật Thủy lợi; Luật Khí tượng thủy văn và Luật Đê điều.
Tài liệu tham khảo
-
Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14 ngày 19/11/2018.
-
Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 của Chính phủ.
-
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, được Quốc hội thông qua ngày 24/8/2026, có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
-
Bộ Nông nghiệp và Môi trường, bài viết “Chuẩn bị cắt giảm hàng loạt thủ tục hành chính trong lĩnh vực trồng trọt”, đăng ngày 27/8/2026.